Điểm du lịch Chùa Tân Thanh, xã Hoàng Văn Thụ, tỉnh Lạng Sơn

Chùa Tân Thanh là một trong những công trình văn hóa – tâm linh tiêu biểu ở vùng biên giới phía Bắc Việt Nam. Ngôi chùa được xây dựng tại khu vực Cửa khẩu Tân Thanh, mang ý nghĩa vừa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân, vừa là biểu tượng văn hóa và chủ quyền nơi biên cương Tổ quốc. Năm 2022, chùa được UBND tỉnh Lạng Sơn công nhận là Điểm du lịch cấp tỉnh.

Nhãn

Chùa Tân Thanh nằm ở khu vực Cửa khẩu Tân Thanh, xã Hoàng Văn Thụ tỉnh Lạng Sơn. Cách trung tâm thành phố Lạng Sơn khoảng 28 - 30 km về phía Tây Bắc. Nằm ngay trên tuyến Quốc lộ 4A, rất thuận lợi cho giao thông và kết nối du lịch.

Nhãn

 

Chùa nằm trong vùng núi đá vôi đặc trưng, Địa hình có đồi núi xen các thung lũng; Không khí trong lành, mát mẻ quanh năm; Bao quanh là rừng cây và các dãy núi tạo thế phong thủy đẹp; Theo quan niệm phong thủy, khu đất có thế "Long chầu – Hổ phục", phía trước có các dãy núi làm tiền án, phía sau có thế núi như ngai rồng, tạo nên không gian linh thiêng và hùng vĩ.

Nhãn

Mặc dù là công trình được khởi công từ năm 2015, chùa mang nhiều giá trị đặc biệt: Là ngôi chùa lớn được xây dựng tại khu vực biên giới Việt Nam – Trung Quốc; Khẳng định dấu ấn văn hóa Việt Nam nơi cửa ngõ biên cương; Góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc; Là điểm sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân địa phương và du khách; Mang ý nghĩa biểu tượng về chủ quyền văn hóa, tinh thần hòa bình, hữu nghị và phát triển.

Nhãn
Nhãn

Chùa Tân Thanh mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống Việt Nam: Kiến trúc thuần Việt; Phong cách chùa Bắc Bộ; Cổng Tam quan bằng gỗ; Hệ thống điện Tam Bảo; Điện thờ Đức Thánh Trần; Điện thờ Đức Thánh Mẫu; Tượng Phật sơn son thếp vàng; Hoành phi, câu đối.

Nhãn

Hằng năm, vào mùng 9 tháng Giêng âm lịch diễn ra Lễ hội truyền thống Chùa Tân Thanh, với các nghi lễ Phật giáo, múa lân, múa sư tử, trò chơi dân gian như đẩy gậy, lày cỏ, nhảy bao…, thu hút hàng nghìn du khách du lịch thập phương.

VĂN HÓA VÀ CON NGƯỜI XÃ HOÀNG VĂN THỤ

  1. Trang phục áo chàm – Biểu tượng văn hóa của đồng bào Tày, Nùng
Nhãn

Vẻ đẹp duyên dáng, mộc mạc của người Tày, Nùng trong trang phục áo chàm truyền thống

Xã Hoàng Văn Thụ là địa bàn có đông đồng bào dân tộc Tày, Nùng sinh sống, lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc. Trong đó, trang phục áo chàm là một biểu tượng văn hóa tiêu biểu, phản ánh nét đẹp mộc mạc, giản dị và tinh thần lao động cần cù của người dân địa phương.

Áo chàm được làm từ vải dệt thủ công, trải qua nhiều công đoạn như dệt vải, nhuộm chàm và may mặc. Mỗi bộ trang phục không chỉ thể hiện sự khéo léo của người phụ nữ Tày, Nùng mà còn chứa đựng những giá trị văn hóa được gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ. Với gam màu trầm đặc trưng cùng kiểu dáng giản dị, phù hợp với điều kiện lao động và sinh hoạt, áo chàm đã trở thành hình ảnh quen thuộc trong đời sống cộng đồng.

Hiện nay, trang phục truyền thống vẫn được người dân sử dụng trong các dịp lễ hội, ngày hội đại đoàn kết, hoạt động văn hóa, văn nghệ và các sự kiện của địa phương. Hình ảnh những bộ áo chàm hòa cùng tiếng đàn tính, làn điệu Then và Sli góp phần tạo nên không gian văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

Việc bảo tồn và phát huy giá trị của trang phục truyền thống không chỉ góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc mà còn tạo điều kiện để quảng bá hình ảnh quê hương, thúc đẩy phát triển du lịch văn hóa gắn với xây dựng nông thôn mới.

2. Hát Then, hát Sli – Những âm thanh làm nên bản sắc Tày, Nùng

Bên cạnh trang phục áo chàm, hát Then và hát Sli là những loại hình văn hóa phi vật thể tiêu biểu, gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của đồng bào Tày, Nùng. Qua lời ca, tiếng đàn và những giai điệu truyền thống, các giá trị về quê hương, tình yêu, lao động và khát vọng cuộc sống được lưu giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ.

Hát Then – Di sản văn hóa của cộng đồng Tày, Nùng

Nhãn

Trang phục truyền thống hòa cùng tiếng đàn tính, hát Then và các hoạt động văn hóa, văn nghệ, tạo nên không gian văn hóa đặc sắc của đồng bào Tày, Nùng.

Hát Then là loại hình nghệ thuật dân gian tổng hợp, kết hợp giữa lời hát, tiếng đàn tính và các nghi lễ truyền thống. Không chỉ mang giá trị nghệ thuật, Then còn phản ánh đời sống tâm linh, tín ngưỡng và quan niệm về con người, thiên nhiên của đồng bào Tày, Nùng.

Năm 2019, nghi lễ Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây là niềm tự hào, đồng thời là động lực để địa phương tiếp tục bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong đời sống hiện đại.

Hát Sli – Lời ca giao duyên đậm đà bản sắc

Nhãn

Hát Sli – tiếng hát giao duyên mộc mạc, đằm thắm của đồng bào Nùng, thể hiện tình cảm, tình yêu quê hương và đời sống cộng đồng

Khác với hát Then, hát Sli là hình thức hát đối đáp của đồng bào Nùng, thường diễn ra trong các lễ hội, ngày hội và hoạt động sinh hoạt cộng đồng. Nội dung các câu hát phong phú, thể hiện tình yêu quê hương, tình cảm lứa đôi, tình đoàn kết và những kinh nghiệm trong lao động, sản xuất.

Với lối ứng đối linh hoạt, lời ca giàu hình ảnh và cảm xúc, hát Sli thể hiện sự thông minh, tinh tế trong đời sống văn hóa của đồng bào, góp phần làm phong phú kho tàng văn hóa dân gian của địa phương.

Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống

Những năm qua, xã Hoàng Văn Thụ luôn quan tâm bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống thông qua việc duy trì các câu lạc bộ văn nghệ, tổ chức các hoạt động giao lưu, biểu diễn trong các ngày lễ, ngày hội và khuyến khích thế hệ trẻ tham gia học tập, thực hành các làn điệu Then, Sli.

Việc gìn giữ trang phục áo chàm, hát Then, hát Sli cùng các phong tục, tập quán truyền thống không chỉ góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc mà còn tạo nền tảng để phát triển du lịch cộng đồng, quảng bá hình ảnh xã Hoàng Văn Thụ – vùng đất giàu truyền thống văn hóa, thân thiện và mến khách.

3. Nét đẹp phong tục, tập quán của đồng bào Tày, Nùng ở Hoàng Văn Thụ

Bên cạnh trang phục áo chàm, hát Then và hát Sli, đồng bào Tày, Nùng ở xã Hoàng Văn Thụ vẫn gìn giữ nhiều phong tục, tập quán truyền thống, trong đó Rằm tháng 7 (Tết Pây Tai) là nét đẹp văn hóa tiêu biểu, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", tình cảm gia đình và sự gắn kết cộng đồng.

            Rằm tháng 7 – Ngày hướng về cội nguồn

Nhãn

Rằm tháng 7 là dịp con cháu trở về sum họp, tưởng nhớ tổ tiên và cầu mong gia đình bình an, mùa màng thuận lợi. Các gia đình chuẩn bị mâm cơm truyền thống, thực hiện các nghi lễ theo phong tục, qua đó gìn giữ và trao truyền những giá trị văn hóa tốt đẹp cho thế hệ trẻ. Đến nay, phong tục này vẫn được duy trì phù hợp với đời sống hiện đại, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc và phát huy truyền thống tốt đẹp của đồng bào Tày, Nùng

TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÔN BẢN ĐUỐC, 

XÃ HOÀNG VĂN THỤ, TỈNH LẠNG SƠN

 

Thôn Bản Đuốc nằm ở phía Bắc của xã Hoàng Văn Thụ, cách trung tâm xã khoảng 8 km, cách cửa khẩu Tân Thanh 6,7 km. Thôn có 100 hộ, 511 nhân khẩu, chủ yếu là người dân tộc Nùng, Tày. Với cảnh quan thiên nhiên còn giữ được nét nguyên sơ cùng những giá trị văn hóa truyền thống, Bản Đuốc có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng.

Nhãn

Bản đuốc có Giếng Ngọc Bản Đuốc và dòng suối uốn lượn xung quanh làng

Nhãn

Giếng Ngọc Bản Đuốc - mạch nước tự nhiên chảy từ lòng núi đá

     Nằm dưới những tán cây cổ thụ và giữa các vách đá tự nhiên, Giếng Ngọc Bản Đuốc là nguồn nước tự nhiên chảy từ lòng núi quanh năm, trong và mát. Theo người dân địa phương, nước giếng có đặc điểm mùa hè mát lạnh, mùa đông ấm hơn so với nhiệt độ bên ngoài. Từ lâu, nguồn nước này đã phục vụ sinh hoạt của người dân và gắn bó với đời sống của thôn.

    Không chỉ có giá trị về nguồn nước, khu vực Giếng Ngọc còn sở hữu cảnh quan hài hòa với những khối đá tự nhiên, cây xanh và không gian yên tĩnh, phù hợp để nghỉ chân, chụp ảnh và trải nghiệm thiên nhiên. Đặc biệt, vào mùa lúa chín khoảng tháng 5 và tháng 9, khung cảnh nơi đây càng trở nên hấp dẫn với những cánh đồng vàng xen giữa núi rừng.

Với cảnh quan tự nhiên còn nguyên sơ, Giếng Ngọc có thể phát triển theo mô hình du lịch sinh thái gắn với du lịch cộng đồng và trải nghiệm. Việc khai thác cần gắn với bảo vệ nguồn nước, giữ gìn cảnh quan và phát huy vai trò của người dân địa phương nhằm hướng tới phát triển du lịch bền vững.

Nhãn

1.2.2 Hang Lù Ngần (Hang Vành) -Nơi thiên nhiên và những câu chuyện xưa còn được lưu giữ

 

Nhãn

Hang Lù Gần ( Hang Vành) -Nơi thiên nhiên và những câu chuyện xưa còn được lưu giữ

    Ẩn mình giữa những vách đá tự nhiên và tán rừng xanh mát, Hang Lù Gần (Hang Vành) mang vẻ đẹp hoang sơ, yên bình và vẫn giữ được nét nguyên bản của thiên nhiên. Không chỉ là một hang đá tự nhiên, nơi đây còn gắn với nhiều câu chuyện dân gian và những ký ức lịch sử được người dân địa phương lưu truyền qua nhiều thế hệ.

    Theo lời kể của người dân, “Lù gần” nghĩa là “hang bạc”. Từ lâu, Hang Lù đã gắn với một truyền thuyết đặc biệt về một hũ vàng được cất giấu bên trong hang. Tương truyền rằng, chỉ những gia đình nào sinh liền một mạch chín người con trai, không có bất kỳ người con gái nào xen giữa, khi lên sẽ tìm thấy hũ vàng ấy. Dù chỉ là câu chuyện truyền miệng, truyền thuyết này đã góp phần tạo nên nét huyền bí và sự tò mò đối với Hang Lù.

    Theo định hướng của địa phương, Hang Lù Gần sau này sẽ được đổi tên thành Hang Vành. Dù mang tên gọi mới, nơi đây vẫn sẽ là một địa điểm đáng khám phá, nơi du khách có thể hòa mình vào thiên nhiên, lắng nghe những câu chuyện dân gian đầy màu sắc và hiểu thêm về ký ức lịch sử của vùng đất biên cương Lạng Sơn.

Tiềm năng phát triển du lịch đồi khau khú

Nhãn

Toàn cảnh Đồi Khau Khú – khu vực có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng.

     Đồi Khau Khú là một trong những điểm có tiềm năng phát triển du lịch của thôn Bản Đuốc. Từ đỉnh đồi có thể quan sát toàn cảnh thung lũng, những dãy núi đá vôi, cánh đồng và bản làng, tạo nên bức tranh thiên nhiên đặc trưng của vùng núi Đông Bắc. Vào sáng sớm hoặc chiều muộn, cảnh sắc nơi đây càng trở nên ấn tượng với mây phủ trên các đỉnh núi và ánh nắng trải khắp cánh đồng.

Nhãn

    Với lợi thế về địa hình và cảnh quan, Đồi Khau Khú phù hợp để phát triển các hoạt động như leo núi, trekking, ngắm cảnh, săn mây, chụp ảnh và cắm trại. Nếu được đầu tư hệ thống lối đi, điểm ngắm cảnh, biển chỉ dẫn và các dịch vụ du lịch cộng đồng, nơi đây có thể trở thành điểm nhấn trong tuyến du lịch của Bản Đuốc.

   Việc khai thác cần gắn với bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan tự nhiên và phát triển du lịch theo hướng bền vững nhằm phát huy hiệu quả giá trị tài nguyên, đồng thời bảo tồn bản sắc văn hóa của địa phương.